Những người sống ở nơi cao nhất Hà Nội
Bữa ăn ở trên này rất đặc biệt, thực phẩm chính là lạc rang và cá khô. Không phải vì anh em quá tằn tiện nhưng có phóng xe hơn 30km đi mua đồ về cũng chỉ trữ được 2-3 ngày. Trứng vài ngày không ăn là lòng đỏ tự hỏng, canh cũng phải đun theo kiểu “ninh” mới ăn được.
Còn cả một chặng đường dài 20 km nữa để đi từ Vườn Quốc gia Ba Vì lên đến Trạm kiểm lâm cốt 1.100 mét, nơi được coi là đỉnh Ba Vì. Con đường dẫn lên thật đẹp với nhiều đoạn quanh co, gấp khúc hút theo những cánh rừng già. Màu xanh ngút ngàn tầm mắt. Dọc hai bên đường, những buồng chuối rừng sậm đỏ điểm xuyết cho các vạt hoa dại rực rỡ sắc vàng khiến lòng người rộn ràng cảm xúc giữa khung cảnh u trầm của núi rừng nguyên sơ. Từ đây nhìn xuống đồng bằng xa xa phía dưới, chỉ thấy những đám mây bồng bềnh, nhàn tản.
Trụ sở của Trạm kiểm lâm cốt 1.100 mét là một căn nhà nhỏ 2 tầng nằm dưới tán rừng già, dựng bằng gỗ khá vững chãi. Đây là một trong 6 trạm thuộc Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Vì nhưng điều đặc biệt nhất của trạm nằm ở cái tên, Trạm kiểm lâm cốt 1.100 mét.
Điều dễ nhận thấy nhất ở đây là sự khắc nghiệt về khí hậu, thể hiện ngay trong chén trà kiểm lâm viên Tô Văn Nam pha tiếp khách. Nước sôi sùng sục vừa đun không đủ làm chín chè, còn chén nước vừa rót tay đã bị bầu không khí lạnh xung quanh hút hết nhiệt nên chỉ còn âm ấm.
Nam kể, năm nay thời tiết khá thuận, cũng lạnh nhưng chưa ăn thua gì so với trận rét lịch sử mùa đông 2007. Đợt ấy gần một tháng trời, nhiệt đột thường xuyên ở mức 1-2 độ C, có ngày nhiệt độ xuống dưới 0 độ C, hơi nước đóng băng, cây cối ngoài rừng khoác lên mình một lớp tuyết mỏng. Quần áo mặc lên người bao nhiêu cũng không đủ. Đêm xuống, chăn bông của mấy anh em chập cả lại đắp chung mà không chống nổi cái rét, đành lấy củi khô tích trữ đốt lửa sưởi ấm chờ tới sáng. Mấy con sóc trong rừng cũng “khôn ngoan” kéo nhau vào trong trạm tránh rét “ké” cán bộ kiểm lâm.
Không cứ mùa đông, ở độ cao trên 1.000 mét, hai phần ba quãng thời gian trong năm mây mù luôn đặc quánh. Ngay như giấy tờ, tài liệu để trong trụ sở, anh em cũng phải lấy giấy nilon bọc lại cẩn thận, nếu không hơi nước phủ lên, giấy không mủn cũng nhòe hết. Còn quần áo phải mang xuống chân núi giặt và phơi khô mới được.
Bữa ăn ở trên này cũng rất đặc biệt, thực phẩm chính là lạc rang và cá khô. Chẳng phải vì anh em quá tằn tiện (dù thu nhập của mỗi người chỉ khoảng 2,5-3 triệu đồng mỗi tháng) nhưng khí hậu ở đây rất khác nghiệt. Mỗi lần phóng xe “về dưới xuôi” gần 30km xuống cửa rừng rồi đi thêm 5-7 cây số nữa để đi chợ nhưng cũng chỉ trữ đồ ăn được trong 2-3 ngày là cùng. Như trứng mua về, vài ngày không ăn là lòng đỏ tự hỏng. Nấu được một bữa ăn cũng không dễ dàng gì. Trời quá lạnh, các loại canh ở đây phải đun theo kiểu “ninh” mới ăn được.
Với các kiểm lâm viên ở đây, có lẽ sợi dây liên lạc nối với dưới xuôi gần gũi nhất là chiếc tivi. Nhưng độ ẩm cao nên đồ điện tử như vô tuyến chỉ dùng trong vài tháng là lăn đùng ra “trở chứng”. Sóng điện thoại di động thì thường xuyên ở tình trạng chập chờn bởi tất cả đều phụ thuộc vào thời tiết.
Từ trạm kiểm lâm cốt 1.1000 mét, có hai con đường dẫn lên đỉnh của dãy Ba Vì. Phía Tây là đỉnh Tản Viên, cao 1.226 m, nơi đó có đền Thượng, tương truyền là nơi hóa của Đức thánh Tản – Sơn Tinh thuộc “tứ bất tử” trong tâm linh người Việt. Còn theo hướng đông là dẫn lên đỉnh Vua, ngọn núi cao nhất của Ba Vì (1.296m). Hơn 800 bậc đá dẫn lên đỉnh Vua như đường dẫn vào chốn bồng lai tiên cảnh. Mây vần vũ bao quanh, cây cối rừng già đan nhau chằng chịt. Càng lên cao không khí càng loãng ra, gió ngàn ù ù thổi, hơi nước lạnh bốc lên mờ mịt làm lối đi thêm phần trầm mặc, huyền bí…
Ngự trên đỉnh Vua lồng lộng gió là Đền thờ Bác Hồ. Công trình được hoàn thành vào ngày 31/8/1999 (30 năm sau ngày Bác đi xa).
Trạm phó kiểm lâm Trần Ngọc Chính kể, khi xây dựng công trình này, toàn bộ nguyên vật liệu được vận chuyển bằng sức người từ dưới chân núi lên để không làm ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường. Lúc cao điểm có tới 1.000 người, có cả bộ đội công binh và nhân dân tham gia xây dựng. Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở đỉnh Vua có diện tích 150m2, được xây theo phong cách cổ, kết cấu bêtông cốt thép, nhìn theo hướng nam, bên dưới là dòng sông Đà uốn khúc.
Trạm kiểm lâm cốt 1.100 mét được giao thêm nhiệm vụ thiêng liêng là trông coi đền. Do vậy, ngoài việc tuần tra bảo vệ gần 1.000 ha, anh em trong trạm còn cắt cử người có mặt 24 trên 24 giờ thường trực ở đây. Nghe qua có vẻ đơn giản, nhưng với họ thì từ trong tâm khảm, nơi linh thiêng này chính là nóc mái nhà của Hà Nội.
Làm công việc này cũng có những kỷ niệm khó quên. Tô Văn Nam kể, mới tháng trước có một đoàn cán bộ từ miền nam ra thăm Thủ đô, lên đây viếng Bác. Khi đoàn tới trạm thì mặt trời đã tối, dù đã hết giờ đón tiếp khách theo quy định, nhưng các cụ lão thành cách mạng cứ năn nỉ được lên Đền thờ Bác Hồ thắp nén hương tưởng nhớ vì sáng hôm sau đoàn phải lên đường vào nam. Anh em nể quá, đành phá lệ.
Nhưng khổ nổi đi trong đêm bao phủ cả khu rừng, đường lại khó đi, trong khi các cụ toàn người tuổi cao sức yếu, thế là anh em kiểm lâm chia nhau ra, vừa cõng vừa dìu, soi đường đưa các cụ lên đường. Hơn 4 tiếng đồng hồ, cho tới khi đoàn an toàn lên ôtô ra khỏi Vườn Quốc gia Ba Vì, anh em mới thở phào nhẹ nhõm. Nửa đêm mệt nhoài, chưa kịp ăn cơm, mồ hôi ướt đẫm lưng áo dù trời rất lạnh. Vất vả thế nhưng ai cũng thấy vui.
Làm việc ở một nơi quanh năm mây phủ, bốn mùa thừa thãi gió ngàn, không thiếu sự hùng vĩ của thiên nhiên với tiếng chim ca vượn hú, nhưng trong lòng họ không tránh khỏi những giây phút trống trải nhớ nhà, nhớ người thân và nhớ sự sôi động của dòng chảy xã hội. 5 kiểm lâm viên của trạm trừ trạm trưởng đã bước qua cái ngưỡng cửa tuổi 40 còn lại đều thuộc dạng 7X, 8X. Anh em đều trẻ nhưng người ít cũng đã có thâm niên làm việc 5-6 năm tại trạm. Do đó, tài sản giá trị nhất mà những người kiểm lâm ở đây sở hữu là lòng yêu nghề, niềm tự hào với công việc thầm lặng của mình.
(Theo Hà Nội Mới)












